Thâm dạ tư hương
1.深夜思鄉
夜靜孤燈照客窗,
寒風入夢動愁腸。
千山月白思桑梓,
萬里雲低憶故鄉。
葉落空庭添客淚,
鐘殘屋遠斷人腸。
此心一片隨歸雁,
夢到家園草木香
Thâm dạ tư hương
Dạ tĩnh cô đăng chiếu khách song,
Hàn phong nhập mộng động sầu trường.
Thiên sơn nguyệt bạch tư tang tử,
Vạn lý vân đê ức cố hương.
Diệp lạc không đình thiêm khách lệ,
Chung tàn ốc viễn đoạn nhân trường.
Thử tâm nhất phiến tùy quy nhạn,
Mộng đáo gia viên thảo mộc hương.
——-
Đêm vắng đèn hiu bóng lẻ loi,
Gió khuya lay mộng dạ bồi hồi.
Ngàn non trăng bạc thương quê cũ,
Muôn dặm mây sầu nhớ đất thôi.
Lá rụng sân xưa rơi lệ khách,
Chuông tàn nhà vắng xót lòng người.
Hồn theo cánh nhạn về quê mẹ,
Thoảng ngát hương đồng giữa mộng vui.
歸鄉會知音
功成歸里故園春,
花笑杏巷待故人。
竹影搖風迎遠客,
茶香滿座話前塵。
浮名過眼如流水,
知己銘心勝萬珍。
一曲清琴傳雅意,
白頭相對見天真。
Quy hương hội tri âm
Công thành quy lý cố viên xuân,
Hoa tiếu Hạnh hạng đãi cố nhân.
Trúc ảnh dao phong nghênh viễn khách,
Trà hương mãn tọa thoại tiền trần.
Phù danh quá nhãn như lưu thủy,
Tri kỷ minh tâm thắng vạn trân.
Nhất khúc thanh cầm truyền nhã ý,
Bạch đầu tương đối kiến thiên chân.
Về Quê Gặp Tri Âm
Đường mây trở gót đến thôn xưa,
Nước biếc non xanh đón khách vừa.
Hoa cười ngõ Hạnh chào người cũ,
Rượu ấm hiên quê đợi bạn xưa.
Danh nổi chẳng quên tình cố quận,
Tâm trong còn giữ nghĩa văn thư.
Tri âm gặp lại lòng như nguyệt,
Một khúc thanh phong mãi chẳng mờ.
Thu thủy
秋水悠悠月滿樓,
相思無盡上心頭。
花前獨坐聽風落,
一夜寒燈伴客愁。
Phiên âm:
Thu thủy du du nguyệt mãn lâu,
Tương tư vô tận thướng tâm đầu.
Hoa tiền độc tọa thính phong lạc,
Nhất dạ hàn đăng bạn khách sầu.
Dịch nghĩa:
Nước thu man mác, trăng đầy lầu,
Nỗi tương tư vô tận dâng lên trong lòng.
Ngồi một mình trước hoa nghe gió rơi,
Suốt đêm chỉ có ngọn đèn lạnh làm bạn cùng nỗi sầu tha hương.
旬自壽
七旬回首幾風霜,
大難餘生福澤長。
鐵骨曾經千浪險,
丹心猶照萬家鄉。
詩書未老情無盡,
歲月重開德有光。
笑看浮雲天地闊,
松齡鶴壽樂安康。
Phiên âm Hán Việt
Thất tuần tự thọ
Thất tuần hồi thủ kỷ phong sương,
Đại nạn dư sinh phúc trạch trường.
Thiết cốt tằng kinh thiên lãng hiểm,
Đan tâm do chiếu vạn gia hương.
Thi thư vị lão tình vô tận,
Tuế nguyệt trùng khai đức hữu quang.
Tiếu khán phù vân thiên địa khoát,
Tùng linh hạc thọ lạc an khang.
Dịch nghĩa
Bảy mươi ngoảnh lại biết bao gió sương,
Qua cơn đại nạn, phúc lành càng dài.
Xương sắt từng vượt ngàn cơn sóng dữ,
Lòng son vẫn soi sáng xóm làng quê hương.
Thơ sách chưa già, tình đời còn mãi,
Năm tháng mở thêm ánh sáng của đức hạnh.
Mỉm cười ngắm mây nổi giữa trời đất rộng,
Tuổi tùng tuổi hạc, an vui mạnh khỏe.
Đề tặng
壽至七旬心未老,
德留百世墨長香。
Thọ chí thất tuần tâm vị lão,
Đức lưu bách thế mặc trường hương.
七旬課孫
(Thất tuần khóa tôn)
漢文
七旬松下課兒孫,
竹影書聲入小軒。
一字千金先立德,
半窗明月共尋源。
家傳詩禮春常在,
世守箕裘道永存。
但願後昆勤學業,
清風遺澤滿乾坤。
Phiên âm Hán Việt
Thất tuần tùng hạ khóa nhi tôn,
Trúc ảnh thư thanh nhập tiểu hiên.
Nhất tự thiên kim tiên lập đức,
Bán song minh nguyệt cộng tầm nguyên.
Gia truyền thi lễ xuân thường tại,
Thế thủ cơ cừu đạo vĩnh tồn.
Đãn nguyện hậu côn cần học nghiệp,
Thanh phong di trạch mãn càn khôn.
Dịch thơ
Bảy mươi dưới bóng tùng già, dạy cháu,
Bóng trúc, tiếng sách vọng bên hiên nhỏ.
Một chữ trước tiên là gây dựng đức,
Nửa cửa trăng trong cùng tìm cội nguồn.
Nhà còn lễ nghĩa thì xuân còn mãi,
Nghiệp tổ truyền đời, đạo chẳng phai.
Chỉ mong con cháu siêng năng học tập,
Để gió thanh lưu đức khắp muôn nơi.
七旬課孫
Thất tuần khóa tôn – Bảy mươi tuổi dạy cháu
漢文
七旬翁對玉童真,
三歲孫兒笑語新。
一卷詩書傳祖訓,
千秋孝義立家倫。
寒窗莫負勤修業,
遠志當期自立身。
他日若能承我業,
書香永繼阮家春。
Phiên âm Hán Việt
Thất tuần ông đối ngọc đồng chân,
Tam tuế tôn nhi tiếu ngữ tân.
Nhất quyển thi thư truyền tổ huấn,
Thiên thu hiếu nghĩa lập gia luân.
Hàn song mạc phụ cần tu nghiệp,
Viễn chí đương kỳ tự lập thân.
Tha nhật nhược năng thừa ngã nghiệp,
Thư hương vĩnh kế Nguyễn gia xuân.
Dịch thơ
Bảy mươi ông ngắm cháu thơ ngây,
Ba tuổi bi bô tiếng nói đầy.
Một quyển sách xưa truyền nếp cũ,
Ngàn năm hiếu nghĩa dựng tương lai.
Đèn sách chuyên cần đừng phụ chí,
Lập thân bền vững với đường dài.
Mai sau nếu nối nghề ông gắng,
Hương sách dòng Nguyễn mãi không phai.