Làng Ân Phú

Written by

in

Mở đầu
DẤU ẤN LÀNG QUÊ


Ân Phú, mảnh đất được ghi tên đầu tiên là Trại Đầu
vào thập kỷ thứ nhất của thế kỷ XV, khi cha con Trạng
nguyên Sử Hy Nhan và Sử Đức Huy về đây cắm TRẠI và xây
cơ lập nghiệp, ngót 600 năm. Nếu đem so với 4000 năm của
lịch sử Việt Nam thì thật ít ỏi; nhưng thời gian và chính thế
hệ sau đã làm xóa nhòa đi vết tích của con người thế hệ trước.
Tổ tiên của chúng ta đã sống ở đây hàng ngàn năm trước; qua
thiên tai, địch họa; chính sự vô tình và ích kỷ đã xóa đi nhiều
dấu vết vinh hoa cũng như sự khổ đau của con người ngày
trước. Tuy vậy, sự tồn tại của tự nhiên cũng còn để lại trên
Trại Đầu – Ân Phú trải qua sáu trăm năm thăng trầm của lịch
sử, mặc dầu ít ỏi. Tên Kẻ Boòng không còn ấn tích trong các
trang sử bằng bút mực, nhưng nó vẫn tồn tại trong dấu ấn
truyền khẩu làng quê mình của người dân Ân Phú.
Trong dòng chảy của lịch sử văn hóa, bao người đi qua
mảnh đất này. Ngắm địa hình từ bắc vào nam; quay mặt về
hướng đông thấy dòng Ngàn Sâu xanh mát ôm lấy Ân Phú
yêu thương cả ba mặt Bắc – Đông – Nam, buổi sáng mùa hạ
nhìn xa xăm ánh mặt trời đỏ rực từ chân trời; quay đầu lại

hướng tây dựa lưng vào núi Mồng Gà – gặp buổi “nắng chia
nửa bãi, chiều rồi”[1] – ở đây, 3 giờ chiều mặt trời đã xuống núi.
Luồn sâu vào lịch sử, thì không khỏi ngậm ngùi, dốc sức tìm
lại trang sách của nhân quần để đi tìm vết tích văn hóa con
người đã sinh ra, lớn lên trên mảnh đất này như thế nào?
Tại sao lại có cảm hứng cho Huy Cận – thi sĩ tài năng tầm thế
giới đã gửi gắm vào đời bằng Tràng Giang, khi chàng: Bâng
khuâng trời rộng nhớ sông dài; để rồi: thốt ra ngôn từ rất đỗi
quê hương, nơi sinh ra ông thật nồng nàn – sâu thẳm: “Lòng
quê dợn dợn vời con nước, / Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”.[2]
Nền văn hóa cốt cách làng quê, trên mảnh đất Ân Phú
này không những chỉ sinh ra “chàng Huy Cận khi xưa hay sầu
lắm”[3] với ngôn ngữ tinh hoa tài ba; mà trước đó, đã có những
tài nhân: Trạng nguyên Trần Thành Đốn, Trạng nguyên Trần
Tiết Việt, Tiến sĩ – Hiệu sinh phủ Trần Xuân Hòa, Tiến sĩ – Tri
phủ Trần Khắc Nhượng, Binh bộ thượng thư Cù Ngọc Xán,
Hộ bộ Thượng thư Trần Hữu Kiệm, Quốc tử giám giám sinh
Nguyễn Xuân Vi, Quốc tử giám giám sinh Trần Uy Đức, Tri
Phủ Cù Văn Nghiễm, Hiệu sinh phủ Trần Công Cái, Huyện
thừa Trần Văn Hành, Huyện thừa Cù Thân Vạn, Hiệu sinh
phủ Nguyễn Sĩ Lan, Hiệu sinh phủ Nguyễn Sĩ Ưu; Hiệu sinh
phủ Nguyễn Sĩ Kiệm, Hiệu sinh phủ Trần Văn Sách… đã sinh
ra trên mảnh đất này. Thế thì cốt cách nào đã sinh ra họ.?
Lần lại lịch sử văn hóa làng quê, nhiều người nói rằng

địa linh, sinh nhân kiệt; nhưng nhân kiệt đó phải được
“trồng” trên một nền truyền thống – đó phải là truyền thống
hiếu học, tôn sư trọng đạo, thì mới “đơm hoa kết quả” tốt.
Tôn sư trọng đạo – muôn đời không nói hết và không thể diễn

tả hết được bằng ngôn ngữ. Trên mỗi quê hương xứ sở, nó
là dòng chảy chủ lực trong cuộc sống, một dòng chảy âm
thầm bền bỉ, sâu lắng, nhạy cảm; nó là sợi chỉ đỏ trong triết
lý sống khoa học xã hội, hệ thống đó luôn chứa đựng tinh
hoa lòng người trên mảnh đất Ân Phú này. Nó đã được duy
trì, nhưng cũng thăng trầm trong chiều dài lịch sử, có những
khúc khuỷu trong lối sống, có khi cũng làm tha hóa lòng
người trong hai từ danh – lợi; để lại hậu quả đáng tiếc; không
ít người không quay về lại với những thiện cảm hai chữ Ân
Phú quê hương – qua cải cách ruộng đất, qua hợp tác hóa
nông nghiệp, qua những đợt làm nghĩa vụ của thời cận đại.
Cả một lịch sử dài hành mấy trăm năm, những tên trong
danh sách tiên hiền, hậu hiền ngày xưa còn sót lại, họ là một
thành phần quan trọng trong trí thức làng và cũng là niềm
kiêu hãnh của người dân Ân Phú khi đi ra “với làng, với nước,
với thiên hạ”[1], nhưng, ngày nay ít người biết đến. Sau thời
kỳ tân học của những năm hai mươi của thế kỷ trước, tình
trạng trí thức làng của xã bị khủng hoảng đến ngày nay, và
còn có người nghĩ rằng không còn cái gọi là trí thức làng nữa[2]
.
Về văn hóa tâm linh, ngày nay cũng là giai đoạn khủng
hoảng trầm trọng, do một khoảng trống lịch sử bị xua đuổi,
bài trừ. Một chuỗi văn hóa đứt gãy. Một làng quê như Ân Phú
không rõ một tôn giáo nào để nó góp chung vào sự điều
chỉnh nhằm giúp con người dễ dàng hướng thiện; có những
năm, người ta không sợ gì cả, rồi 12 ngôi đền bị phá tan tành;
tượng, linh tự khí đưa làm đồ chơi cho trẻ chăn trâu, người
ta còn ngang nhiên đào mồ mả của người xưa để tìm vàng[3]
(!); Rồi, bây giờ lại sợ. Sợ cả hòn đá trong đền Vại, sợ hồn đứa

trẻ chết lên ba tuổi, sợ nhà có tang không được sờ tay vào đồ
cúng, sợ dòng họ có tang không được làm nhà, cất mả… rồi
sợ cả ma thuốc độc (!). Một sự hủy hoại đáng tiếc, đó là sách
vở chữ Hán, một giai đoạn dài, cái gì của “đế quốc và phong
kiến” đều bị đốt bỏ. Gia phả nhiều dòng tộc ghi chép tên tuổi
tổ tiên, mối liên hệ dòng giống, huyết thống với nhau không
được giữ gìn; thơ, văn, chuyện kể truyền tục không được
truyền giữ; những bài văn tế tuyệt từ cũng không còn lưu lại.
Ngày nay, chúng ta xây dựng xã nông thôn mới trên nền
đất Trại Đầu – Ân Phú xa xưa, một xã hội nhỏ – con người có
dòng giống tổ tiên 600 năm về trước, thế nhưng một tiêu chí
về văn hóa cội nguồn gần như bị bỏ ngỏ; hay nói cách khác
là đang bị hỏng chân, không có điểm tự và kết nối; những trò
chơi thể thao truyền thống cổ xưa đặc sắc như chơi khăng,
ăn ô, bài tổ tôm…; những vở diễn giáo dục đạo lý như “Tống
Trân – Cúc Hoa, Nhị độ mai, Lưu Bình – Dương Lễ, Tấm Cám,
Quan Âm Thị Kính… gần như không được để ý đến; những
dụng cụ: sáo, đàn cổ, trống đất, nhị… không có người học;
một đám tang vắng tiếng khóc thân thương, thay vào đó là
loa đài ồn ào… với bài “phụ tử tình thâm”…, đã nhắc đi, nhắc
lại, phát ầm ỷ trên loa suốt ngày đêm cùng với vài ông “thầy
cúng” chạy xô – chữ hán không hiểu chữ hán, chữ quốc ngữ
không hiểu chữ quốc ngữ; nho không ra nho, phật không ra
phật. Thật đáng tiếc!
Với những người con của quê hương như thế hệ 1940x,
1950x, 1960x và đa phần của thế hệ 1970x đã chôn rau cắt rốn
trên mảnh đất này hàng chục thế hệ, tổ tiên là sự hôn kết
dòng máu giữa các dòng họ; Nay cũng là lớp người năm, sáu
mươi, bảy mươi của kỷ “cổ lai hy”. Đa số đã theo thời đại, đi

ra rồi định cư trên đất mới, kể cả ở nước ngoài. Những người
ở lại quê hương cũng đang miệt mài với ruộng đồng trên
một sở hữu mới – sở hữu toàn dân. Lớp người này tất cả đều
có con, cháu và ít nhất là anh em ruột đã đi ra. Gốc rễ phải
được hiểu như thế nào?.
Thế thì làm gì cho quê hương; không thể quay lại cảnh
nông cư vi hạnh, cảnh con trâu đi trước cái cày đi sau làm hạnh
phúc; không thể trở lại “quan phụ mẫu” quan trên bảo sao
thì dân nghe vậy… Ngày nay, thiết chế xã hội trên nền sản
xuất hậu công nghiệp, nền tự do dân chủ đặt trên quyền tự do
con người là trên hết – người Ân Phú vẫn lam lũ với những
mảnh ruộng chia lẻ, với vài con trâu/bò cày; không có lấy
một xưởng chế biến lương thực, thực phẩm; thậm chí không
có lấy một cái máy cày nên hồn. Thế thì văn hóa dân tộc và
văn hóa quê hương mang tính đặc trưng sẽ được duy trì,
phát triển như thế nào?, để con người được hưởng “độc lập

tự do – hạnh phúc” trong “độc lập – tự do – hạnh phúc” của
đất nước, của thời đại. Thiết nghĩ: nông thôn mới, văn hóa
mới không thể xây dựng trên bãi cát với những tộc người xa
lạ, từ sao Hỏa, sao Kim tới… mà nó phải được tô thắm trên
một quê hương Trại Đầu – Ân Phú có lịch sử 600 năm; trên
dòng giống tổ tiên của các dòng tộc đã về đây sinh cơ lập
nghiệp từ hàng trăm năm về trước.
Vì vậy, chúng ta nên tìm lại cội nguồn, soi rọi bóng hình
mỗi cá nhân trong đó; để rồi – một tiếng nói chân tình, một
buổi về thăm quê, một đóng góp về vật chất vào công trình
phúc lợi, về bảo vệ môi trường… của mỗi con người yêu Ân
Phú, mang một chút máu Ân Phú cũng là lòng tự hào với
quê hương với dòng chữ trên một trang sử ngắn ngủi này.

Comments

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *