Category: tac-pham

  • Vẫn nợ quê hương cho một lời nguyền

    Gửi người Ân Phú yêu thương:

    Ta đi vu vơ trong suốt bốn mươi lăm năm
    Lòng đau đáu về nơi quê Cha đất Tổ,
    Nơi ấy, con sông Ngàn Sâu dập dờn sóng vỗ
    Nơi hương cau vẫn đưa thoang thoảng mỗi sáng tiếng ru hời.
    Bóng dương tà gác núi chiều hôm
    Con tu hú kêu dục lòng hối hả
    Nơi xóm cũ không còn cái tên cũ,
    Bến quê xưa, vắng tiếng gọi đò về.
    Chỉ còn bâng khuâng trinh nữ, thẹn thùng quê
    Con sông Ngàn Sâu vẫn lững lờ xuôi chảy
    Trang sách cũ gợi lòng đất trìu mến
    Một cảnh xa xưa thấp thoáng một Kẻ Bòong.
    Mảnh đất hiền đã thấm máu cha ông
    Sáu trăm năm khi người xưa dựng trại,
    Cái Trại Đầu, đầu tiên miền sơn cước ấy
    Khi cha con song trạng không khuất phục Ngô thù.
    Sử Hy Nhan đã nằm xuống đây
    Năm một ngàn bốn trăm hai mươi mốt (1421)
    Tháng Bảy xưa chắc mưa rơi thảm thiết
    Giọt mưa quê thánh thót chữ Trại Đầu.

    Sáu trăm năm rồi, đất nước diệt Ngô
    Đất Trại Đầu trở thành nơi Dân Ân Quốc Phú (民殷國富)
    Hai từ ÂN PHÚ lẫy lừng vang mãi
    Gắn với tên mười hai vị tôn thần.
    Những rú Trộ Voi với cồn Đội Đèn
    Nơi cồn Vại quan Bà hiển thánh
    Đền Nhà Bà xưa, một thời hưng phế
    Tiếng vọng người đi mở cõi thuở hoang vu.
    Ôi quê hương, ngậm ngùi lịch sử chừng ấy năm
    Mười tám vị tiên hiền xếp bút nghiên đi về Nam phương,
    Những tên người Trần Tiết Việt, Trần Thanh Đốn
    Cùng Hy Nhan, Đức Huy lịch sử oai hùng.
    Ta vẫn nợ đời chép sử sáu trăm năm
    Dựng lại miếu thờ Tiên hiền mở cõi,
    Hỡi anh linh ngàn năm cố Quận
    Cho lòng con thương, được thanh thản mỗi chiều về.
    Sài Gòn, 1/7/2019
    THẾ PHIỆT

  • LÀNG ÂN PHÚ

    Mở đầu
    DẤU ẤN LÀNG QUÊ


    Ân Phú, mảnh đất được ghi tên đầu tiên là Trại Đầu
    vào thập kỷ thứ nhất của thế kỷ XV, khi cha con Trạng
    nguyên Sử Hy Nhan và Sử Đức Huy về đây cắm TRẠI và xây
    cơ lập nghiệp, ngót 600 năm. Nếu đem so với 4000 năm của
    lịch sử Việt Nam thì thật ít ỏi; nhưng thời gian và chính thế
    hệ sau đã làm xóa nhòa đi vết tích của con người thế hệ trước.
    Tổ tiên của chúng ta đã sống ở đây hàng ngàn năm trước; qua
    thiên tai, địch họa; chính sự vô tình và ích kỷ đã xóa đi nhiều
    dấu vết vinh hoa cũng như sự khổ đau của con người ngày
    trước. Tuy vậy, sự tồn tại của tự nhiên cũng còn để lại trên
    Trại Đầu – Ân Phú trải qua sáu trăm năm thăng trầm của lịch
    sử, mặc dầu ít ỏi. Tên Kẻ Boòng không còn ấn tích trong các
    trang sử bằng bút mực, nhưng nó vẫn tồn tại trong dấu ấn
    truyền khẩu làng quê mình của người dân Ân Phú.
    Trong dòng chảy của lịch sử văn hóa, bao người đi qua
    mảnh đất này. Ngắm địa hình từ bắc vào nam; quay mặt về
    hướng đông thấy dòng Ngàn Sâu xanh mát ôm lấy Ân Phú
    yêu thương cả ba mặt Bắc – Đông – Nam, buổi sáng mùa hạ
    nhìn xa xăm ánh mặt trời đỏ rực từ chân trời; quay đầu lại

    hướng tây dựa lưng vào núi Mồng Gà – gặp buổi “nắng chia
    nửa bãi, chiều rồi”[1] – ở đây, 3 giờ chiều mặt trời đã xuống núi.
    Luồn sâu vào lịch sử, thì không khỏi ngậm ngùi, dốc sức tìm
    lại trang sách của nhân quần để đi tìm vết tích văn hóa con
    người đã sinh ra, lớn lên trên mảnh đất này như thế nào?
    Tại sao lại có cảm hứng cho Huy Cận – thi sĩ tài năng tầm thế
    giới đã gửi gắm vào đời bằng Tràng Giang, khi chàng: Bâng
    khuâng trời rộng nhớ sông dài; để rồi: thốt ra ngôn từ rất đỗi
    quê hương, nơi sinh ra ông thật nồng nàn – sâu thẳm: “Lòng
    quê dợn dợn vời con nước, / Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”.[2]
    Nền văn hóa cốt cách làng quê, trên mảnh đất Ân Phú
    này không những chỉ sinh ra “chàng Huy Cận khi xưa hay sầu
    lắm”[3] với ngôn ngữ tinh hoa tài ba; mà trước đó, đã có những
    tài nhân: Trạng nguyên Trần Thành Đốn, Trạng nguyên Trần
    Tiết Việt, Tiến sĩ – Hiệu sinh phủ Trần Xuân Hòa, Tiến sĩ – Tri
    phủ Trần Khắc Nhượng, Binh bộ thượng thư Cù Ngọc Xán,
    Hộ bộ Thượng thư Trần Hữu Kiệm, Quốc tử giám giám sinh
    Nguyễn Xuân Vi, Quốc tử giám giám sinh Trần Uy Đức, Tri
    Phủ Cù Văn Nghiễm, Hiệu sinh phủ Trần Công Cái, Huyện
    thừa Trần Văn Hành, Huyện thừa Cù Thân Vạn, Hiệu sinh
    phủ Nguyễn Sĩ Lan, Hiệu sinh phủ Nguyễn Sĩ Ưu; Hiệu sinh
    phủ Nguyễn Sĩ Kiệm, Hiệu sinh phủ Trần Văn Sách… đã sinh
    ra trên mảnh đất này. Thế thì cốt cách nào đã sinh ra họ.?
    Lần lại lịch sử văn hóa làng quê, nhiều người nói rằng

    địa linh, sinh nhân kiệt; nhưng nhân kiệt đó phải được
    “trồng” trên một nền truyền thống – đó phải là truyền thống
    hiếu học, tôn sư trọng đạo, thì mới “đơm hoa kết quả” tốt.
    Tôn sư trọng đạo – muôn đời không nói hết và không thể diễn

    tả hết được bằng ngôn ngữ. Trên mỗi quê hương xứ sở, nó
    là dòng chảy chủ lực trong cuộc sống, một dòng chảy âm
    thầm bền bỉ, sâu lắng, nhạy cảm; nó là sợi chỉ đỏ trong triết
    lý sống khoa học xã hội, hệ thống đó luôn chứa đựng tinh
    hoa lòng người trên mảnh đất Ân Phú này. Nó đã được duy
    trì, nhưng cũng thăng trầm trong chiều dài lịch sử, có những
    khúc khuỷu trong lối sống, có khi cũng làm tha hóa lòng
    người trong hai từ danh – lợi; để lại hậu quả đáng tiếc; không
    ít người không quay về lại với những thiện cảm hai chữ Ân
    Phú quê hương – qua cải cách ruộng đất, qua hợp tác hóa
    nông nghiệp, qua những đợt làm nghĩa vụ của thời cận đại.
    Cả một lịch sử dài hành mấy trăm năm, những tên trong
    danh sách tiên hiền, hậu hiền ngày xưa còn sót lại, họ là một
    thành phần quan trọng trong trí thức làng và cũng là niềm
    kiêu hãnh của người dân Ân Phú khi đi ra “với làng, với nước,
    với thiên hạ”[1], nhưng, ngày nay ít người biết đến. Sau thời
    kỳ tân học của những năm hai mươi của thế kỷ trước, tình
    trạng trí thức làng của xã bị khủng hoảng đến ngày nay, và
    còn có người nghĩ rằng không còn cái gọi là trí thức làng nữa[2]
    .
    Về văn hóa tâm linh, ngày nay cũng là giai đoạn khủng
    hoảng trầm trọng, do một khoảng trống lịch sử bị xua đuổi,
    bài trừ. Một chuỗi văn hóa đứt gãy. Một làng quê như Ân Phú
    không rõ một tôn giáo nào để nó góp chung vào sự điều
    chỉnh nhằm giúp con người dễ dàng hướng thiện; có những
    năm, người ta không sợ gì cả, rồi 12 ngôi đền bị phá tan tành;
    tượng, linh tự khí đưa làm đồ chơi cho trẻ chăn trâu, người
    ta còn ngang nhiên đào mồ mả của người xưa để tìm vàng[3]
    (!); Rồi, bây giờ lại sợ. Sợ cả hòn đá trong đền Vại, sợ hồn đứa

    trẻ chết lên ba tuổi, sợ nhà có tang không được sờ tay vào đồ
    cúng, sợ dòng họ có tang không được làm nhà, cất mả… rồi
    sợ cả ma thuốc độc (!). Một sự hủy hoại đáng tiếc, đó là sách
    vở chữ Hán, một giai đoạn dài, cái gì của “đế quốc và phong
    kiến” đều bị đốt bỏ. Gia phả nhiều dòng tộc ghi chép tên tuổi
    tổ tiên, mối liên hệ dòng giống, huyết thống với nhau không
    được giữ gìn; thơ, văn, chuyện kể truyền tục không được
    truyền giữ; những bài văn tế tuyệt từ cũng không còn lưu lại.
    Ngày nay, chúng ta xây dựng xã nông thôn mới trên nền
    đất Trại Đầu – Ân Phú xa xưa, một xã hội nhỏ – con người có
    dòng giống tổ tiên 600 năm về trước, thế nhưng một tiêu chí
    về văn hóa cội nguồn gần như bị bỏ ngỏ; hay nói cách khác
    là đang bị hỏng chân, không có điểm tự và kết nối; những trò
    chơi thể thao truyền thống cổ xưa đặc sắc như chơi khăng,
    ăn ô, bài tổ tôm…; những vở diễn giáo dục đạo lý như “Tống
    Trân – Cúc Hoa, Nhị độ mai, Lưu Bình – Dương Lễ, Tấm Cám,
    Quan Âm Thị Kính… gần như không được để ý đến; những
    dụng cụ: sáo, đàn cổ, trống đất, nhị… không có người học;
    một đám tang vắng tiếng khóc thân thương, thay vào đó là
    loa đài ồn ào… với bài “phụ tử tình thâm”…, đã nhắc đi, nhắc
    lại, phát ầm ỷ trên loa suốt ngày đêm cùng với vài ông “thầy
    cúng” chạy xô – chữ hán không hiểu chữ hán, chữ quốc ngữ
    không hiểu chữ quốc ngữ; nho không ra nho, phật không ra
    phật. Thật đáng tiếc!
    Với những người con của quê hương như thế hệ 1940x,
    1950x, 1960x và đa phần của thế hệ 1970x đã chôn rau cắt rốn
    trên mảnh đất này hàng chục thế hệ, tổ tiên là sự hôn kết
    dòng máu giữa các dòng họ; Nay cũng là lớp người năm, sáu
    mươi, bảy mươi của kỷ “cổ lai hy”. Đa số đã theo thời đại, đi

    ra rồi định cư trên đất mới, kể cả ở nước ngoài. Những người
    ở lại quê hương cũng đang miệt mài với ruộng đồng trên
    một sở hữu mới – sở hữu toàn dân. Lớp người này tất cả đều
    có con, cháu và ít nhất là anh em ruột đã đi ra. Gốc rễ phải
    được hiểu như thế nào?.
    Thế thì làm gì cho quê hương; không thể quay lại cảnh
    nông cư vi hạnh, cảnh con trâu đi trước cái cày đi sau làm hạnh
    phúc; không thể trở lại “quan phụ mẫu” quan trên bảo sao
    thì dân nghe vậy… Ngày nay, thiết chế xã hội trên nền sản
    xuất hậu công nghiệp, nền tự do dân chủ đặt trên quyền tự do
    con người là trên hết – người Ân Phú vẫn lam lũ với những
    mảnh ruộng chia lẻ, với vài con trâu/bò cày; không có lấy
    một xưởng chế biến lương thực, thực phẩm; thậm chí không
    có lấy một cái máy cày nên hồn. Thế thì văn hóa dân tộc và
    văn hóa quê hương mang tính đặc trưng sẽ được duy trì,
    phát triển như thế nào?, để con người được hưởng “độc lập

    tự do – hạnh phúc” trong “độc lập – tự do – hạnh phúc” của
    đất nước, của thời đại. Thiết nghĩ: nông thôn mới, văn hóa
    mới không thể xây dựng trên bãi cát với những tộc người xa
    lạ, từ sao Hỏa, sao Kim tới… mà nó phải được tô thắm trên
    một quê hương Trại Đầu – Ân Phú có lịch sử 600 năm; trên
    dòng giống tổ tiên của các dòng tộc đã về đây sinh cơ lập
    nghiệp từ hàng trăm năm về trước.
    Vì vậy, chúng ta nên tìm lại cội nguồn, soi rọi bóng hình
    mỗi cá nhân trong đó; để rồi – một tiếng nói chân tình, một
    buổi về thăm quê, một đóng góp về vật chất vào công trình
    phúc lợi, về bảo vệ môi trường… của mỗi con người yêu Ân
    Phú, mang một chút máu Ân Phú cũng là lòng tự hào với
    quê hương với dòng chữ trên một trang sử ngắn ngủi này.